Tin Tức

Các vấn đề gặp phải sau nhổ răng

Sưng và đau

Sau phẫu thuật trong miệng, sưng là bình thường và nó tỷ lệ thuận với mức độ thao tác và chấn thương. Vào ngày đầu tiên nên chườm lạnh bằng túi đá (hoặc túi nhựa chứa đậu hoặc ngô đông lạnh mà có thể uốn theo hình dạng mặt). Chườm lạnh trong 25 phút mỗi giờ hoặc 2 giờ. Nếu sưng không giảm vào ngày thứ 3 sau phẫu thuật, có thể bệnh nhân đã bị nhiễm trùng và có thể phải dùng kháng sinh (ví dụ penicillin VK 500 mg đường uống mỗi 6 giờ hoặc clindamycin 300 mg đường uống mỗi 6 giờ) đến 72 giờ sau khi các triệu chứng giảm.

Đau sau phẫu thuật có thể từ trung bình đến nặng và được điều trị bằng thuốc giảm đau 

Viêm huyệt ổ răng sau nhổ răng (ổ răng khô)

Viêm huyệt ổ răng sau nhổ răng là đau phát sinh từ xương nếu cục máu đông trong huyệt ổ răng bị phân giải. Mặc dù tình trạng này có thể tự hết nhưng nó là khá đau đớn và thường đòi hỏi một sự can thiệp nào đó. Nó xảy ra phổ biến hơn ở những người hút thuốc, sử dụng thuốc tránh thai đường uống và chủ yếu xảy ra khi nhổ răng hàm lớn hàm dưới, thường là răng khôn. Điển hình, cơn đau bắt đầu vào ngày thứ 2 hoặc 3 sau phẫu thuật, đau lan đến tai, và kéo dài từ vài ngày đến nhiều tuần.

Nên bơm rửa huyệt ổ răng bằng nước muối hoặc chlohexidine 0,2% và đặt một số loại thuốc có thể giảm đau. Một lựa chọn lâu đời là một miếng gạc kích cỡ từ 3 đến 5 cm tẩm idoform bão hòa trong eugenol (thuốc giảm đau) hoặc được bọc bằng thuốc tê bôi, như lidocaine 2,5% hoặc tetracaine 0,5%, đặt trong huyệt ổ răng. Miếng gạc được thay mỗi 1 đến 3 ngày cho đến khi các triệu chứng không trở lại sau khi bỏ gạc vài giờ. Gần đây, hỗn hợp thương mại của amben (thuốc tê), eugenol và iodoform (kháng khuẩn) đã trở nên phổ biến hơn. Mặc dù không tiêu nhưng hỗn hợp này sẽ tự động thoát ra khỏi huyệt ổ răng sau vài ngày. Những thủ thuật này thường loại bỏ được nhu cầu dùng thuốc giảm đau hệ thống, mặc dù có thể dùng NSAIDs nếu cần giảm đau thêm. Bệnh nhân nên được theo dõi bởi nha sĩ trong 24 giờ.

Viêm xương tủy hàm

Viêm xương tủy hàm, trong một số ít trường hợp có thể bị nhầm với viêm huyệt ổ răng, được phân biệt bởi sốt, đau khu trú, và sưng tấy. Nếu các triệu chứng kéo dài cả tháng, mảnh xương chết, dấu hiệu chẩn đoán của viêm xương tủy hàm, có thể nhìn thấy trên phim X quang. Viêm xương tủy hàm đòi hỏi phải điều trị lâu dài bằng kháng sinh có hiệu quả với cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm và phải được chăm sóc đến khi khỏi.

Hoại tử xương hàm (ONJ)

Hoại tử xương hàm là một tổn thương miệng liên quan đến sự bộc lộ xương hàm dưới hoặc xương hàm trên, thường biểu hiện bởi đau đớn, lung lay răng và chảy mủ (1). ONJ có thể xảy ra sau khi nhổ răng nhưng cũng có thể phát triển sau chấn thương hoặc xạ trị ở đầu và cổ.

ONJ liên quan đến thuốc đề cập đến mối liên quan được phát hiện giữa thuốc chống loãng xương và ONJ. Các thuốc này bao gồm các bisphosphonate (BP), thuốc ức chế hủy cốt bào, các chất ức chế cathepsin K. Những bệnh nhân ung thư được tiêm tĩnh mạch BP có nguy cơ tăng ONJ gấp 4 lần, có lẽ do sự sinh khả dụng cao của BP đường tĩnh mạch. Tuy nhiên, liệu pháp BP đường uống cho bệnh nhân không mắc ung thư dường như có nguy cơ rất thấp bị ONJ; theo ước tính gần đây, tỷ lệ mắc trong quần thể này là khoảng 0,1%. Ngừng liệu pháp trị liệu bằng đường uống không chắc có thể làm giảm tỷ lệ ONJ vốn đã thấp này. Duy trì vệ sinh răng miệng tốt là một biện pháp ngăn ngừa hiệu quả hơn việc dừng uống BP trước khi làm thủ thuật nha khoa. Liều cao hơn và thời gian sử dụng kéo dài hơn (điều trị > 2 năm) của liệu pháp chống hủy xương có liên quan đến ONJ. Các thuốc khác gây ONJ bao gồm chất ức chế hủy cốt bào, denosumab, và một số thuốc tác dụng đích chống ung thư, như bevacizumab và sunitinib.

Điều trị hoại tử xương hàm đang gặp nhiều thách thức và thường chỉ làm giảm nhẹ, làm sạch từng phần, sử dụng kháng sinh và súc miệng.

Chảy máu

Chảy máu sau nhổ răng thường do các mạch máu nhỏ. Bất kỳ cục máu đông nào trồi ra khỏi huyệt ổ răng đều được lấy đi bằng gạc, và một miếng gạc 10 cm (gấp lại) hoặc một túi trà (có chứa axit tannic) được đặt trên huyệt ổ răng. Sau đó bệnh nhân được hướng dẫn tạo áp lực liên tục bằng cách cắn trong 1 giờ. Việc này có thể phải lặp lại 2 hoặc 3 lần. Bệnh nhân phải đợi ít nhất 1 giờ trước khi kiểm tra để tránh làm gián đoạn sự hình thành cục máu đông. Họ cũng được thông báo rằng một vài giọt máu pha loãng với nước bọt trong miệng làm họ cảm thấy có nhiều máu hơn.

Nếu tiếp tục chảy máu, có thể gây tê vùng hoặc gây tê tại chỗ với 2% lidocaine chứa 1:100.000 epinephrine. Sau đó nạo huyệt ổ răng để loại bỏ cục máu hiện có và làm mới xương rồi bơm rửa bằng dung dịch nước muối. Sau đó khâu lại với mũi chỉ căng nhẹ. Thuốc làm đông máu tại chỗ, như xenluloza oxy hoá, thrombin tẩm trong gelatin bọt biển, hoặc collagen vi sợi, có thể được đặt trong ổ răng trước khi khâu.

Nếu có thể, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu (ví dụ như aspirinclopidogrelwarfarin) nên ngưng điều trị từ 3 đến 4 ngày trước khi phẫu thuật. Có thể tiếp tục sử dụng thuốc vào tối hôm đó. Nếu những biện pháp này thất bại, cần tìm ra một nguyên nhân hệ thống (ví dụ như tạng chảy máu).

Theo msdmanuals

Bài viết khác